Hà thủ ô sống có độc không: khác gì hà thủ ô đã chế với đậu đen
Hà thủ ô sống gây đi ngoài, đau bụng và không hề an toàn cho gan. Chế với đậu đen làm giảm tính nhuận tràng, nhưng không biến củ thành thứ dùng tuỳ ý.
Hà thủ ô đỏ, hà thủ ô trắng, bình vôi, củ nâu, khoai sọ dại, sắn — những củ dân gian dùng nhưng phải chế biến (đồ đen, ngâm, luộc kỹ) hoặc có độc tính: vì sao, chế biến truyền thống làm gì (nguyên lý), ai không nên dùng.
Hà thủ ô sống gây đi ngoài, đau bụng và không hề an toàn cho gan. Chế với đậu đen làm giảm tính nhuận tràng, nhưng không biến củ thành thứ dùng tuỳ ý.
Hà thủ ô là một trong những dược liệu có nhiều báo cáo tổn thương gan nhất. Tổn thương không theo liều, đến chậm, và nhận ra sớm thì đa số hồi phục.
Hà thủ ô trắng không phải biến thể của hà thủ ô đỏ mà là một cây khác họ, có nhựa mủ trắng, lá mọc đối, độc tính chưa được nghiên cứu đủ.
Củ sắn chứa chất sinh ra xyanua khi cắt, nhai. Bóc vỏ, ngâm nước, luộc mở vung và bỏ nước đầu là cách dân gian xử lý đúng với cơ chế đó.
Lá sắn ăn được nhưng chứa nhiều chất sinh xyanua hơn cả củ. Vò, luộc kỹ trong nhiều nước và bỏ nước, hoặc muối chua đúng cách, mới đưa vào bữa ăn.
Củ bình vôi chứa alkaloid tác động lên thần kinh, cùng nhóm với hoạt chất làm thuốc an thần. Tự ngâm rượu, sắc uống dễ quá liều và đã có báo cáo hại gan.
Củ nâu là củ nhuộm vải quen thuộc của làng quê Bắc Bộ, rất chát vì nhiều tanin, không phải củ ăn. Ruột đỏ nâu khiến phiến khô dễ lẫn với hà thủ ô.
Củ ráy và nhiều loại khoai môn dại chứa tinh thể canxi oxalat hình kim gây bỏng rát, sưng môi lưỡi, có khi phù họng. Nhận đúng cây là bước đầu tiên.
Củ nần cùng chi với củ mài nhưng chứa alkaloid gây nôn, chóng mặt, co giật. Dây có gai, lá xẻ ba lá chét là dấu hiệu để tránh, không để đào về ăn.
Củ nưa và dọc nưa ăn được sau khi gọt, ngâm, luộc kỹ để khử ngứa. Bột và thạch từ củ nưa konjac an toàn khi dùng đúng, trừ thạch cốc nhỏ dễ gây hóc ở trẻ.
Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.