ThoHao.comThổ Hào
Hà thủ ô và củ cần chế biến kỹ

Hà thủ ô sống có độc không: khác gì hà thủ ô đã chế với đậu đen

Hà thủ ô sống gây đi ngoài, đau bụng và không hề an toàn cho gan. Chế với đậu đen làm giảm tính nhuận tràng, nhưng không biến củ thành thứ dùng tuỳ ý.

Close view of freshly dug reddish-brown knobby roots on a bamboo tray beside a clay pot of black beans, farmhouse yard in Lao Cai, hands only, soft morning light

Hà thủ ô sống có độc, theo nghĩa nó gây hại thật cho người dùng: củ tươi hoặc phơi khô mà chưa chế làm đi ngoài lỏng, đau quặn bụng, và cũng như hà thủ ô đã chế, nó nằm trong danh sách dược liệu có báo cáo tổn thương gan. Vì vậy sách thuốc cổ không dùng củ sống để bồi bổ; củ phải qua chế biến với nước đậu đen, đồ và phơi nhiều lần rồi mới vào thang.

Chế biến giải quyết được phần tác dụng nhuận tràng, không giải quyết được hết chuyện gan. Hiểu hai ý đó cho rạch ròi là đủ để tránh phần lớn tai nạn: không tự đào củ về thái lát ngâm rượu hay sắc nước uống, và cũng không coi củ đã chế là thứ uống quanh năm như trà. Bài dưới giải thích trong củ sống có gì, chế biến làm thay đổi gì, ai nên tránh hẳn và dấu hiệu nào phải đi viện.

Hà thủ ô sống và hà thủ ô chế khác nhau từ đâu

Cây hà thủ ô đỏ là một loài dây leo thuộc họ Rau răm, tên khoa học hay gặp là Fallopia multiflora (tài liệu cũ ghi Polygonum multiflorum). Thân quấn, màu đỏ tía, lá hình tim, mọc hoang và được trồng nhiều ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Lào Cai, Lai Châu, Sơn La, Cao Bằng. Bộ phận dân gian dùng là rễ củ: củ mập, vỏ nâu đỏ, cắt ngang thấy ruột hồng đến đỏ nâu với các vòng vân như mắt.

Người làm thuốc chia củ thành hai thứ khác hẳn nhau. Sinh hà thủ ô là củ đào lên, rửa, thái phiến, phơi hay sấy khô, không qua bước nào khác. Chế hà thủ ô là củ đã ngâm, đồ với nước đậu đen, phơi rồi đồ lại nhiều lượt cho tới khi ruột chuyển đen nâu, mềm, vị bớt chát. Trong y học cổ truyền, hai thứ này được xếp công năng khác nhau và không dùng thay cho nhau.

Điều này giải thích vì sao cùng một tên gọi mà có người uống thấy "không sao", có người đi ngoài cả ngày: thứ họ mua về ở chợ có khi là phiến sống, có khi chế dối vài lượt, có khi chỉ nhuộm cho đen. Người dùng nhìn bằng mắt thường rất khó phân biệt, và đó là lý do đầu tiên để không tự xử lý củ ở nhà rồi dùng như thuốc bổ.

Cái tên "hà thủ ô" và vì sao người xưa tốn công chế đến thế

Tên hà thủ ô đọc theo âm Hán Việt có nghĩa gần như "đầu ông Hà đen". Truyền thuyết Trung Hoa kể rằng có một người họ Hà ốm yếu, tóc bạc sớm, tình cờ đào được rễ một loài dây leo, dùng lâu ngày thì khoẻ ra và tóc đen lại, nên người đời lấy họ ông đặt cho vị thuốc. Đó là một câu chuyện dân gian, không phải ghi chép y học, nhưng nó giải thích vì sao hà thủ ô gắn chặt với hình ảnh tóc đen và trường thọ cho tới tận bây giờ.

Chính hình ảnh đó khiến nhu cầu dùng hà thủ ô luôn cao, và cũng khiến người ta dễ quên rằng sách thuốc cổ ghi rõ củ sống và củ chế là hai thứ khác nhau. Các thầy thuốc xưa không có phòng thí nghiệm, nhưng họ quan sát được một điều rất thực tế: người uống củ sống thì đi ngoài, đau bụng, người suy nhược uống vào càng mệt thêm. Quy trình đồ với đậu đen, phơi đi phơi lại, ra đời từ quan sát đó, và nó tốn công đến mức chỉ người làm thuốc chuyên mới theo được đủ.

Bài học rút ra cho người dùng hôm nay khá giản dị. Nếu người xưa, vốn dùng hà thủ ô nhiều hơn chúng ta, đã cẩn thận đến vậy với củ sống, thì không có lý do gì để một người hiện đại đào củ trong vườn về thái lát ngâm rượu. Truyền thuyết tóc đen là chuyện kể; còn chuyện củ sống gây hại là kinh nghiệm được ghi lại qua nhiều thế hệ thầy thuốc, nay được y văn hiện đại xác nhận thêm phần gan.

Trong củ sống có gì khiến người xưa không dùng thẳng

Nhóm anthraquinon ở dạng kết hợp. Đây là nhóm chất cùng họ với chất có trong lá phan tả diệp hay đại hoàng, kích thích ruột co bóp và kéo nước vào lòng ruột. Ở củ sống, phần lớn chúng còn gắn với đường, đi xuống ruột già mới được giải phóng, nên uống vào sau vài giờ thì đau quặn, đi ngoài phân lỏng, có người đi nhiều lần trong ngày.

Vị chát và tính "xổ". Sách thuốc nam ghi sinh hà thủ ô có tác dụng nhuận tràng, thông tiện; với người khoẻ thì đó là tác dụng phụ khó chịu, với người già, người suy nhược, trẻ nhỏ thì mất nước và mất điện giải là chuyện có thật. Người tưởng mình đang "bồi bổ" lại thành ra uống thuốc xổ kéo dài.

Hợp chất stilbene và những chất chưa rõ hết. Hà thủ ô chứa một glucosid nhóm stilbene được nghiên cứu nhiều, cùng hàng chục chất khác. Các nghiên cứu về cơ chế tổn thương gan đang nghi ngờ vài nhóm chất trong số này phối hợp với cơ địa người dùng, nhưng đến nay chưa có kết luận đủ chắc chất nào là thủ phạm chính.

Liều không kiểm soát được. Củ đào ở vườn hay trên đồi có hàm lượng hoạt chất chênh nhau theo tuổi cây, đất, mùa thu hái. Không có cách nào ở nhà biết một bát nước sắc của mình đậm tới đâu.

Chế với đậu đen làm gì: nguyên lý, không phải phép màu

Cách chế truyền thống được kể nhiều nhất là "cửu chưng cửu sái", nghĩa là chín lần đồ, chín lần phơi, mỗi lượt tẩm nước đậu đen. Trên thực tế các cơ sở làm thuốc theo dược điển dùng quy trình đã chuẩn hoá, số lượt và thời gian được ghi thành tiêu chuẩn chứ không còn nhất thiết đúng con số chín. Bài này không đưa công thức có tỷ lệ, vì làm qua loa ở nhà dễ cho ra thứ bề ngoài đen nhưng bên trong vẫn gần như sống.

Về nguyên lý, nhiệt và hơi nước kéo dài làm phần anthraquinon dạng kết hợp bị phân giải bớt, nên tác dụng xổ giảm rõ. Quá trình đồ, phơi nhiều lượt cũng làm đổi màu, đổi vị: củ chuyển đen nâu, mềm hơn, bớt chát. Nước đậu đen theo quan niệm cổ truyền là để "điều hoà" vị thuốc; dưới góc phân tích hiện đại, vai trò cụ thể của nó chưa được làm rõ hết.

Điểm cần nhớ: chế biến làm hà thủ ô bớt gây tiêu chảy, nhưng các báo cáo tổn thương gan ghi nhận ở cả người dùng củ sống lẫn củ chế và các viên uống làm từ củ chế. Không có quy trình nào được chứng minh là xoá hẳn nguy cơ đó. Vì vậy "đã chế rồi nên an toàn" là một suy luận sai.

So sánh nhanh hà thủ ô sống và hà thủ ô đã chế

Bảng dưới gom những khác biệt người dùng cần biết. Các mô tả màu sắc, mùi vị chỉ là đặc điểm thường gặp, không đủ để tự kiểm định một lô hàng.

Điểm soHà thủ ô sốngHà thủ ô đã chế
Cách làmRửa, thái phiến, phơi hoặc sấyNgâm, đồ với nước đậu đen, phơi rồi đồ lại nhiều lượt
Màu ruột thường thấyHồng đỏ đến nâu đỏ, còn vân rõĐen nâu đều, mềm, bề mặt hơi bóng
VịChát, hơi đắngBớt chát, hơi ngọt
Tác dụng trên ruộtGây đi ngoài, đau bụng rõGiảm nhiều nhưng có người vẫn bị
Nguy cơ với ganCó báo cáoVẫn có báo cáo
Cách dân gian dùngKhông dùng để bồi bổDùng trong thang thuốc do thầy thuốc kê

Hàng nhuộm màu cho giống củ chế là chuyện của khâu mua bán; nếu cần chọn nơi mua, bạn nên tìm hiểu ở các trang chuyên về người mua dược liệu, còn ở đây chỉ nhắc một điều: phiến đen mà ngâm nước thấy ra màu đen lem nhem, ruột bẻ ra vẫn hồng, là dấu hiệu chế không tới.

Những tình huống dễ dùng phải củ sống mà không biết

Phần lớn người bị tiêu chảy hay đau bụng vì hà thủ ô không cố ý dùng củ sống. Họ rơi vào một trong mấy tình huống sau:

  • Được cho củ tươi đào từ vườn nhà người quen, về thái lát sắc uống như sắc rễ cây khác.
  • Ngâm rượu ngay củ tươi hoặc phiến phơi khô với niềm tin rượu sẽ "chế" thay cho bước đồ với đậu đen. Rượu không thay được nhiệt và hơi nước, lại kéo dài thời gian uống.
  • Mua bột hà thủ ô xay sẵn không rõ nguồn, không biết bột làm từ củ sống hay củ chế.
  • Mua phiến "đã chế" nhưng chỉ đồ một hai lượt, bên ngoài đen mà lõi còn hồng.
  • Tự chế ở nhà theo hướng dẫn trên mạng, đồ không đủ lâu, phơi không đủ khô, để lâu còn bị mốc.
  • Uống kèm các viên bổ tóc, bổ thận nhiều thành phần mà không biết trong đó có hà thủ ô, cộng dồn với nước sắc ở nhà.

Nếu đang uống mà thấy đi ngoài lỏng nhiều lần, đau bụng từng cơn, hãy dừng ngay chứ đừng chờ "quen thuốc". Mất nước ở người già và trẻ nhỏ diễn ra nhanh hơn người ta nghĩ.

Dấu hiệu ngộ độc và tổn thương gan: đến cơ sở y tế ngay

Có hai kiểu phản ứng cần phân biệt. Kiểu thứ nhất đến nhanh, trong vài giờ, chủ yếu ở đường ruột. Kiểu thứ hai đến chậm, thường sau vài tuần dùng đều, ở gan. Cách xử lý như sau:

  1. Đau bụng quặn, đi ngoài nhiều lần, buồn nôn sau khi uống: ngừng ngay, uống bù nước và muối theo hướng dẫn của dung dịch bù nước bán ở hiệu thuốc.
  2. Đi ngoài kèm chóng mặt, khô môi, tiểu ít, người lả đi, hoặc người bệnh là trẻ nhỏ, người già yếu: đến cơ sở y tế ngay.
  3. Mệt bất thường, chán ăn, buồn nôn kéo dài, đau tức vùng dưới sườn phải trong thời gian đang dùng: ngừng dùng và đi khám, nói rõ với bác sĩ là đang uống hà thủ ô.
  4. Vàng da, vàng mắt, nước tiểu sẫm như nước chè đặc, phân bạc màu, ngứa khắp người: đây là dấu hiệu tổn thương gan, cần đến cơ sở y tế ngay trong ngày.
  5. Lơ mơ, nôn ra máu, bụng chướng, phù: gọi 115.
  6. Mang theo gói thuốc, phiến củ hoặc vỏ hộp viên uống để bác sĩ biết chính xác bạn đã dùng gì.

Không tự uống thêm các loại "giải độc gan" khi chưa khám. Bác sĩ cần thấy đúng bức tranh ban đầu để chẩn đoán, và thêm một sản phẩm nữa chỉ làm việc truy nguyên khó hơn.

Ai không nên dùng hà thủ ô, dù sống hay chế

Nhóm cần tránh hẳn hoặc chỉ dùng khi bác sĩ cho phép gồm: người có bệnh gan, men gan tăng, từng viêm gan do thuốc; phụ nữ mang thai và cho con bú; trẻ nhỏ; người đang tiêu chảy hay có bệnh đại tràng. Người đang dùng thuốc điều trị dài ngày, nhất là thuốc có chuyển hoá qua gan, thuốc chống đông, thuốc điều trị tiểu đường, nên hỏi bác sĩ hoặc dược sĩ trước, vì việc dùng chung chưa được nghiên cứu đầy đủ.

Với người khoẻ mạnh, ý kiến thận trọng chung của các thầy thuốc là không tự dùng kéo dài, không tự tăng lượng, và chỉ dùng hà thủ ô đã chế từ nguồn có kiểm soát, trong thang thuốc có người kê. Nếu bạn thật sự muốn tìm hiểu về hà thủ ô cho tóc hay cho sức khoẻ, cách an toàn nhất là mang câu hỏi đó tới một bác sĩ y học cổ truyền có chứng chỉ hành nghề, kèm danh sách các thuốc đang uống.

Câu hỏi thường gặp

Đào được củ hà thủ ô ở vườn thì có thể tự chế ở nhà được không?

Về lý thuyết thì ai cũng đồ và phơi được, nhưng ở nhà không có cách kiểm tra củ đã chế tới hay chưa. Rủi ro hay gặp là đồ chưa đủ, phơi chưa khô rồi mốc. Nếu trong vườn có cây, bạn có thể giữ cây như một loài dây leo quen thuộc thay vì đào củ lên uống.

Ngâm hà thủ ô sống với rượu có giảm độc không?

Không. Rượu hoà tan một phần hoạt chất ra nước rượu chứ không thay được tác dụng của nhiệt và hơi nước trong khâu chế. Rượu ngâm lại khiến người ta uống đều trong thời gian dài, cộng thêm gánh nặng của chính rượu lên gan.

Củ hà thủ ô tươi luộc lên ăn như khoai có được không?

Không nên. Luộc một lần không phải là chế biến theo cách truyền thống, củ vẫn chát và vẫn gây đi ngoài. Hà thủ ô không phải củ ăn như khoai lang hay củ mài, dân gian cũng không có món ăn nào dùng củ này làm lương thực.

Đã uống hà thủ ô mấy tháng không thấy gì thì có cần đi xét nghiệm không?

Tổn thương gan do dược liệu có lúc âm thầm, chỉ phát hiện khi xét nghiệm. Nếu bạn đang dùng đều, có thể hỏi bác sĩ về việc kiểm tra men gan trong lần khám tới, nhất là khi có bệnh nền hoặc đang uống nhiều thuốc khác.

Cây hà thủ ô trồng làm cảnh trong nhà có độc khi chạm vào không?

Chạm vào lá, thân để chăm cây thì không có ghi nhận gây hại đáng kể. Điều cần tránh là trẻ nhỏ nhai lá, đào củ; nên trồng ở chỗ trẻ không với tới và dặn người nhà không tự lấy củ làm thuốc.

Bột hà thủ ô bán trên mạng ghi đã chế chín lần thì có tin được không?

Chữ ghi trên nhãn không tự chứng minh được gì. Điều bạn cần là nguồn gốc rõ, cơ sở sản xuất được cấp phép và có kiểm nghiệm. Dù vậy, như đã nói, củ chế đúng chuẩn vẫn có báo cáo hại gan, nên câu hỏi trước tiên là bạn có thật sự cần dùng hay không.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0868 2222 68