ThoHao.comThổ Hào
Đinh lăng, ba kích và cây rễ quen

Rễ cỏ tranh: nhận dạng thân rễ trắng, nồi nước sâm mùa hè và chỗ cần cẩn thận

Cỏ tranh là cỏ dại khó diệt nhưng thân rễ trắng ngọt nhẹ lại có trong nồi nước sâm mùa hè. Cách nhận đúng, rửa sạch, và ai nên hỏi bác sĩ trước khi uống thường.

Freshly pulled white segmented grass rhizomes being rinsed in a basin of water next to a pile of sugarcane pieces in a Mekong Delta kitchen yard, morning light

Cỏ tranh (Imperata cylindrica) là loài cỏ lá dài, mép sắc, mọc thành bãi, bông trắng như bông gòn; phần dân gian dùng là thân rễ bò ngầm dưới đất, màu trắng, có đốt, nhai thấy ngọt nhẹ, thường được phơi khô và nấu chung với mía lau, râu bắp, lá dứa thành nồi nước sâm giải khát mùa hè ở Nam Bộ. Trong y học cổ truyền, thân rễ này mang tên bạch mao căn.

Với người làm vườn, cỏ tranh là cơn đau đầu vì gần như không diệt được bằng tay. Với người nội trợ, đó lại là một nguyên liệu quen. Bài này đi qua cả hai mặt: nhận cho đúng cỏ tranh và thân rễ của nó, cách người ta lấy và làm sạch rễ, nồi nước sâm truyền thống, và những lưu ý cho người uống thường xuyên.

Cỏ tranh mọc ở đâu và vì sao khó diệt

Cỏ tranh có mặt ở hầu khắp các vùng đất trống của Việt Nam, từ đồi trọc trung du phía Bắc, nương rẫy bỏ hoang ở Tây Nguyên tới bờ kênh, bãi đất ven đô ở Nam Bộ. Nơi nào rừng bị chặt và đất bị bỏ trống, cỏ tranh thường lên nhanh, phủ kín thành bãi. Ngày xưa ở nông thôn, lá tranh phơi khô được bó lại để lợp mái nhà.

Sức sống của cỏ tranh nằm dưới đất. Thân rễ của nó bò ngang, đan chằng chịt ở lớp đất mặt, mỗi đốt có thể mọc lên một cây mới. Nhổ phần lá trên mặt đất gần như không ăn thua, và nếu cuốc đất làm đứt thân rễ thành nhiều đoạn, mỗi đoạn lại thành một gốc mới. Lửa đốt cũng chỉ cháy phần lá, thân rễ dưới đất vẫn nguyên và mọc lại ngay sau mưa.

Chính vì vậy, người làm vườn muốn trị cỏ tranh thường phải đào sâu, nhặt từng đoạn thân rễ, hoặc che phủ kín ánh sáng trong thời gian dài. Những đoạn thân rễ nhặt ra đó, ở nhiều nhà, lại được rửa sạch và phơi khô để dành nấu nước.

Nhận dạng cỏ tranh và thân rễ

Lá. Lá dài và hẹp như dải băng, mọc thẳng từ gốc, dài từ nửa mét tới hơn một mét, mép lá rất sắc, vuốt ngược dễ đứt tay. Gân giữa lá màu trắng nhạt, thường lệch về một bên. Lá non xanh, lá già có khi ngả đỏ ở đầu.

Bông. Bông cỏ tranh mọc thành cụm hình trụ ở đầu một cán thẳng, lúc mới trổ có màu tím nhạt, rồi bung ra thành chùm lông trắng mềm như bông gòn, gió thổi bay xa. Một bãi cỏ tranh trổ bông trắng xóa là hình ảnh dễ nhận nhất.

Thân rễ. Bới đất lên sẽ thấy những sợi thân rễ màu trắng hoặc trắng ngà, to cỡ que đũa hoặc nhỏ hơn, dài, có đốt cách đều, mỗi đốt có vảy mỏng màu nâu nhạt bọc ngoài và vài rễ con. Đầu thân rễ nhọn và cứng, có thể đâm xuyên qua củ, rễ cây khác trong đất.

Vị. Thân rễ tươi nhai thấy ngọt nhẹ, mát, hơi xơ. Tuy vậy, đừng nhai thử rễ của bất kỳ loài cỏ nào mà bạn chưa chắc chắn là gì.

Cỏ tranh và vài loài cỏ dễ nhầm

Ở bãi đất trống, cỏ tranh hay mọc lẫn với vài loài cỏ lá dài khác. Bảng sau giúp tách chúng ra trước khi đào rễ.

LoàiLáBôngPhần dưới đất
Cỏ tranhDài, hẹp, mép rất sắc, gân giữa trắng lệchChùm lông trắng mịn hình trụThân rễ trắng, bò ngang, có đốt
Cỏ lau, cỏ chítTo bản hơn, cây cao hơn nhiềuBông lớn, xòe, thường ngả nâu hoặc tímGốc to, rễ chùm, không có thân rễ trắng bò dài
Cỏ gấuLá hẹp, bóng, thân mặt cắt hình tam giácCụm hoa nâu đỏ ở đầu cánCó củ nhỏ màu nâu đen, mùi thơm
Cỏ gà, cỏ ốngNgắn hơn, mọc bò lanBông nhỏ dạng ngón hoặc bôngThân bò trên mặt đất hoặc nông

Cỏ gấu là loài hay mọc cùng chỗ với cỏ tranh trong vườn. Củ cỏ gấu nhỏ, nâu đen, mùi thơm, cũng là một vị thuốc dân gian khác, không thay được cho rễ tranh. Phân biệt bằng hình dạng phần dưới đất là chắc nhất: rễ tranh trắng và dài, củ cỏ gấu tròn nhỏ và sẫm màu.

Lấy và làm sạch thân rễ cỏ tranh

Dưới đây là cách nhiều nhà vẫn làm khi lấy rễ tranh ở mảnh đất của mình. Điều kiện đầu tiên là biết rõ đất đó chưa bị phun thuốc diệt cỏ trong thời gian gần.

  1. Chọn bãi cỏ tranh ở đất nhà mình hoặc đất mình biết rõ, xa đường xe, xa mương nước thải, chưa phun thuốc diệt cỏ.
  2. Đào sâu chừng một gang tay, gỡ từng sợi thân rễ trắng, bỏ phần lá và gốc thân trên mặt đất.
  3. Rũ đất, ngâm vào chậu nước, chà nhẹ cho tróc lớp vảy nâu và đất bám ở các đốt; thay nước vài lần tới khi nước trong.
  4. Cắt bỏ rễ con và những đoạn thâm đen, mềm nhũn.
  5. Cắt thành đoạn ngắn, dùng tươi trong ngày hoặc phơi nắng thật khô.
  6. Rễ khô cất trong lọ kín, để nơi khô ráo; thấy mốc, có mùi lạ thì bỏ.

Thuốc diệt cỏ là mối lo thật sự với rễ tranh, vì cỏ tranh chính là đối tượng mà người ta phun thuốc nhiều nhất. Đất của người khác, bờ ruộng, ven đường, chân hàng rào công cộng đều không biết được đã phun gì. Nếu không chắc, đừng lấy.

Nồi nước sâm mùa hè của người Nam Bộ

Ở Sài Gòn và miền Tây, vào những ngày nắng nóng, người ta hay nấu một nồi “nước sâm” để uống giải khát. Chữ sâm ở đây không phải nhân sâm hay một loại sâm nào, mà là cách gọi dân dã cho thứ nước nấu từ nhiều thứ cây cỏ mát. Mỗi nhà một công thức, nhưng thường có rễ tranh, mía lau, râu bắp, lá dứa, có nhà thêm rong biển, sâm dứa, la hán quả hoặc bông cúc.

Rễ tranh trong nồi nước sâm góp vị ngọt nhẹ và mùi cỏ dịu. Mía lau cho vị ngọt chính, lá dứa cho mùi thơm, râu bắp làm nước trong và ngọt hậu. Người nấu thường nấu nhỏ lửa, lọc bỏ bã, nêm thêm chút đường phèn nếu cần, để nguội rồi uống với đá.

Rễ tranh dùng nấu nước sâm thường là rễ khô, vì rễ khô cất được lâu và nấu ra nước trong hơn. Trước khi cho vào nồi, nhiều người rửa lại rễ khô bằng nước ấm, có người rang sơ cho dậy mùi. Nồi nước có rễ tranh nấu đúng thường màu vàng nhạt trong, mùi cỏ nhẹ; nước đục, có cặn đen hay mùi hắc là dấu hiệu rễ chưa sạch hoặc đã hỏng, nên đổ đi nấu lại.

Nồi nước sâm là đồ uống của bữa cơm gia đình, của xe nước ven đường, không phải một bài thuốc. Uống vài ly ngày nóng, như uống trà đá hay nước sắn dây, là chuyện thường ngày của người miền Nam. Chỗ cần cẩn thận nằm ở việc uống thay nước lọc hằng ngày, hoặc nấu thật đặc với niềm tin là đang dùng thuốc.

Lá tranh, bông tranh và những cách dùng khác của người xưa

Trước khi có ngói và tôn, mái tranh là mái nhà quen thuộc của nông thôn Việt Nam. Lá tranh cắt vào mùa khô, phơi cho héo, kết thành tấm bằng nẹp tre rồi lợp chồng lên nhau thành lớp dày. Mái tranh mát về mùa hè, ấm về mùa đông, nhưng phải thay sau vài năm và rất dễ cháy. Ngày nay mái tranh còn thấy ở một số nhà vườn, quán ở vùng du lịch, nhà truyền thống được giữ lại.

Bông tranh trắng mềm, có nơi trẻ con nhặt về chơi, người lớn từng dùng nhồi gối, nhồi đệm trong những năm khó khăn. Bông tranh rất nhẹ và dễ bay, lại hút ẩm, nên ngày nay ít ai dùng vào việc đó nữa vì nhanh mốc và gây bụi.

Trong vườn, lá tranh cắt xuống phơi khô là vật liệu phủ gốc tốt: dày, lâu mục, giữ ẩm cho đất, che bớt cỏ dại khác. Chỉ cần chú ý cắt lá trước khi trổ bông, kẻo hạt rụng theo ra luống rau và chính cỏ tranh lại mọc lên.

Trị cỏ tranh trong vườn nhà không cần thuốc diệt cỏ

Với người có mảnh vườn nhỏ trồng rau, cây củ thuốc, việc đầu tiên khi nhận một mảnh đất có cỏ tranh là dọn nó. Dùng thuốc diệt cỏ thì nhanh nhưng để lại tồn dư trong đất, lại làm mất luôn nguồn rễ tranh sạch nếu bạn muốn dùng. Có mấy cách làm tay tuy chậm mà chắc.

Cách thứ nhất là đào sâu và nhặt sạch thân rễ. Cuốc đất sâu hơn một gang tay, nhặt từng sợi thân rễ trắng ra, càng dài càng tốt, không để sót những đoạn ngắn. Sau vài tuần, chỗ nào mọc lại lá tranh thì đào tiếp chỗ đó. Thường phải làm hai ba lượt mới sạch.

Cách thứ hai là che tối. Phủ kín mặt đất bằng bạt dày, tấm bìa các tông chồng nhiều lớp hoặc lớp rơm rạ thật dày, để vài tháng. Thiếu ánh sáng, cỏ tranh yếu dần vì không quang hợp được. Cách này hợp với mảnh đất chưa cần trồng ngay.

Cách thứ ba là trồng phủ. Cỏ tranh sợ bóng râm; trồng dày các cây che phủ nhanh như khoai lang, đậu, hoặc để cây lớn che bóng, cỏ tranh sẽ thưa dần. Những đoạn thân rễ đào ra trong quá trình dọn, nếu đất sạch, chính là nguồn rễ tranh để nhà bạn phơi khô nấu nước.

Ai nên hỏi bác sĩ trước khi uống thường xuyên

Trong y học cổ truyền, bạch mao căn được xếp vào nhóm vị thuốc có tính mát, và kinh nghiệm dân gian cho rằng nước rễ tranh có tính lợi tiểu. Những gì liên quan tới việc đi tiểu nhiều hơn đều đáng lưu ý với một số nhóm người.

Người đang dùng thuốc lợi tiểu, thuốc huyết áp, thuốc tim mạch nên hỏi bác sĩ trước khi uống nước rễ tranh thường xuyên, vì cộng dồn tác dụng có thể làm mất nước, rối loạn muối khoáng. Người có bệnh thận đã được chẩn đoán cũng vậy. Người tiểu đường nên để ý lượng đường trong nồi nước sâm nhiều hơn là rễ tranh, vì mía lau và đường phèn mới là phần ngọt chính.

Phụ nữ mang thai và cho con bú, trẻ nhỏ uống một ly nước sâm loãng như đồ giải khát thường không phải chuyện lớn, nhưng không nên dùng nước rễ tranh đặc kéo dài với mục đích chữa bệnh mà không hỏi bác sĩ. Nước sâm để lâu ngoài nhiệt độ phòng dễ chua, có mùi lạ thì đổ bỏ; cất ngăn mát và uống trong một hai ngày.

Câu hỏi thường gặp

Rễ cỏ tranh là phần nào của cây?

Phần dân gian gọi là rễ tranh thật ra là thân rễ, tức thân mọc bò ngang dưới đất, màu trắng, có đốt cách đều và vảy nâu mỏng bọc ngoài. Mỗi đốt có thể mọc lên một cây mới, đó là lý do cỏ tranh rất khó diệt. Trong y học cổ truyền, phần này gọi là bạch mao căn.

Nước sâm Nam Bộ có phải nấu từ nhân sâm không?

Không. Chữ sâm trong nước sâm là cách gọi dân dã cho thứ nước giải khát nấu từ nhiều cây cỏ mát như rễ tranh, mía lau, râu bắp, lá dứa, có nhà thêm rong biển hoặc la hán quả. Đây là đồ uống thường ngày, không phải bài thuốc.

Lấy rễ cỏ tranh ở ven đường về nấu có được không?

Không nên. Cỏ tranh là loài bị phun thuốc diệt cỏ nhiều nhất, và cỏ ven đường, bờ ruộng, hàng rào công cộng còn dính bụi xe, nước thải. Bằng mắt không biết được đã phun gì. Chỉ nên lấy ở đất của mình hoặc đất biết rõ chưa phun thuốc.

Phân biệt rễ cỏ tranh và củ cỏ gấu thế nào?

Rễ cỏ tranh là sợi thân rễ trắng, dài, có đốt, nhai thấy ngọt nhẹ. Củ cỏ gấu là củ nhỏ tròn hoặc thuôn, màu nâu đen, có mùi thơm, cây cỏ gấu có thân mặt cắt hình tam giác. Hai thứ là hai vị khác nhau, không thay thế được cho nhau.

Người đang uống thuốc lợi tiểu có uống nước rễ tranh được không?

Nên hỏi bác sĩ trước. Kinh nghiệm dân gian cho rằng nước rễ tranh có tính lợi tiểu; cộng với thuốc lợi tiểu, thuốc huyết áp có thể làm mất nước hoặc rối loạn muối khoáng. Người có bệnh thận đã được chẩn đoán cũng cần hỏi bác sĩ trước khi uống thường xuyên.

Nước sâm nấu xong để được bao lâu?

Nước sâm nên để nguội, lọc bỏ bã, cất trong ngăn mát tủ lạnh và uống trong khoảng một hai ngày. Để ngoài nhiệt độ phòng, nhất là ngày nóng, nước dễ chua và có mùi lạ; khi đó nên đổ bỏ chứ không đun lại để uống tiếp.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.

hoặc
Gọi ngay 0868 2222 68