Cách chắc nhất để phân biệt lá ngón và chè vằng là nhìn gân lá: lá chè vằng có ba gân lớn chạy dọc từ cuống lên gần tới ngọn, hai gân bên uốn cong như hai đường viền song song với mép lá; lá ngón chỉ có một gân giữa, các gân phụ tỏa ra hai bên như xương cá (gân lông chim). Khi cây ra hoa thì càng dễ: chè vằng hoa trắng, thơm nhẹ kiểu hoa nhài; lá ngón hoa vàng hình phễu, mọc thành chùm ở đầu cành.
Nhưng lá non, lá rụng gân hoặc mớ lá đã vò, đã thái thì mọi dấu hiệu trên đều có thể mất. Vì vậy nguyên tắc của người hái lâu năm là: mỗi lá phải được nhìn riêng, mớ nào lẫn một lá không chắc thì bỏ cả mớ, và chè vằng mua về đã băm sẵn thì chỉ mua ở nơi biết rõ người hái. Bài này đi lần lượt từ gân lá, cách mọc, hoa, quả tới những tình huống nhầm hay gặp và việc phải làm khi nghi đã uống nhầm.
Đặt hai cành cạnh nhau: bảng đối chiếu từng bộ phận
Lá ngón (tên khoa học Gelsemium elegans, nơi gọi là cây ngón, đoạn trường thảo, co ngón) và chè vằng (Jasminum subtriplinerve, họ Nhài, nơi gọi là chè cước man, dây vằng) đều là dây leo hoặc bụi leo, lá đơn mọc đối, mép lá nguyên, màu xanh bóng. Chính sự giống nhau ở dáng tổng thể làm người ta chủ quan. Bảng dưới gom các điểm khác đáng tin nhất, xếp theo thứ tự nên kiểm.
| Bộ phận | Chè vằng | Lá ngón |
|---|---|---|
| Gân lá | Ba gân chính từ gốc lá, hai gân bên cong lên gần tới ngọn | Một gân giữa, gân phụ tỏa đều hai bên như xương cá |
| Mặt lá | Xanh vừa, hơi ráp hoặc nhẵn tùy nơi mọc | Xanh đậm, nhẵn bóng cả hai mặt |
| Hoa | Trắng, nhỏ, thơm nhẹ, mọc ở đầu cành | Vàng tươi, hình phễu năm thùy, mọc thành chùm ở đầu cành và nách lá |
| Quả | Hình cầu nhỏ, chín màu tím đen | Quả nang hình trứng dài, khô thì nứt đôi, hạt có cánh mỏng |
| Nơi hay gặp | Bờ rào, đồi thấp, ven rừng các tỉnh miền Trung và miền Bắc | Rừng thưa, nương rẫy cũ, ven suối vùng núi phía Bắc và Tây Nguyên |
Trong năm dòng trên, gân lá là dấu hiệu duy nhất có quanh năm và có trên từng lá riêng lẻ. Hoa và quả chỉ có theo mùa; màu và độ bóng của lá thay đổi theo nắng, theo đất. Vì vậy người hái chè vằng có kinh nghiệm luôn soi gân trước, coi hoa và quả là bằng chứng thêm khi có, chứ không bao giờ dựa vào "nhìn quen mắt".
Soi ba gân cho đúng cách, kể cả khi lá còn non
Lật mặt dưới lá, đưa ra chỗ sáng. Gân nổi rõ nhất ở mặt dưới. Với chè vằng, bạn thấy hai gân bên tách ra ngay từ chỗ cuống nối vào phiến lá, chạy cong song song với mép rồi gặp gân giữa gần ngọn. Nếu hai đường gân bên ấy tách ra ở giữa phiến lá chứ không phải từ gốc, đó không phải kiểu ba gân của chè vằng.
Đếm gân bên ở lá ngón. Lá ngón có từ năm đến bảy cặp gân phụ mảnh, tỏa xiên đều từ gân giữa ra mép, không có cặp nào chạy dài suốt chiều lá. Khi nhìn ngược sáng, mặt lá ngón trông "trơn" hơn, các gân phụ mờ dần trước khi chạm mép.
Cẩn thận với lá non và lá quá già. Lá chè vằng non mới nhú có thể chưa hiện rõ hai gân bên; lá già sâu ăn thủng lỗ có thể mất một đoạn gân. Lá nào không đọc được gân thì coi như lá không chắc, bỏ ra ngoài. Đừng suy theo cành: một cành chè vằng có thể bị một dây ngón quấn lẫn vào, lá của hai cây xen nhau trên cùng một bụi.
Lần theo dây tới gốc nếu hái ở bụi lạ. Ở bờ rào hay ven rừng, nhiều loài dây leo quấn vào nhau. Hái ở bụi chưa quen thì lần một dây xuống tận gốc, xem lá trên suốt chiều dây có cùng một kiểu gân không. Việc này mất vài phút nhưng loại được trường hợp nguy hiểm nhất là hai cây cùng leo một giàn.
Vì sao người ta vẫn nhầm dù ai cũng biết "chè vằng ba gân"
Hầu như người lớn ở các vùng có chè vằng đều thuộc câu "chè vằng ba gân". Vậy mà các vụ ngộ độc vì nhầm lá ngón vẫn được báo chí và ngành y tế nhắc lại gần như mỗi năm. Nhìn kỹ các vụ được thuật lại, nguyên nhân hiếm khi là không biết dấu hiệu, mà là không có lúc nào để áp dụng dấu hiệu ấy.
Trường hợp thứ nhất là hái vội, hái nhiều: cắt cả nắm dây mang về, về nhà mới băm, không ai soi từng lá. Trường hợp thứ hai là mua chè vằng đã thái khô ngoài chợ hoặc qua mạng, khi gân lá đã vụn và màu đã sẫm, không còn đọc được gì. Trường hợp thứ ba là hái ở nơi lạ, chẳng hạn đi rẫy ở vùng núi rồi thấy dây "giống chè vằng quê mình". Ở vùng có lá ngón mọc dày, xác suất gặp cây độc cao hơn hẳn ở bờ rào làng.
Một lý do ít được nói là lá ngón không có mùi hay vị cảnh báo rõ rệt. Nhiều cây độc khác có nhựa trắng, mùi hắc hoặc vị đắng gắt làm người ta khựng lại; lá ngón thì không. Vì thế, việc phân biệt phải đến từ hình thái và từ nguồn gốc mớ lá, không thể trông vào việc nếm thử. Tuyệt đối không nhai thử một lá để "xem có đắng không".
Những tình huống nên bỏ cả mớ lá, không tiếc
Một mớ chè vằng chỉ đáng vài bữa nước uống; một lá ngón lẫn vào có thể đủ gây nguy hiểm, nhất là với người già và trẻ nhỏ. Vì vậy ngưỡng để bỏ đi nên thấp. Các tình huống dưới đây là lúc người cẩn thận sẽ đổ bỏ chứ không chọn lại.
- Mớ lá đã băm, đã vò hoặc phơi khô mà bạn không tự tay hái, không biết ai hái và hái ở đâu.
- Trong mớ có bất kỳ lá nào bóng loáng, gân lông chim rõ, hoặc có hoa vàng, quả dài kẹp lẫn.
- Lá hái từ nương rẫy cũ, ven suối vùng núi hoặc nơi người địa phương nói có cây ngón.
- Người hái không nhớ rõ đã cắt từ một bụi hay nhiều bụi, hoặc bụi đó có dây leo khác quấn lẫn.
- Nước nấu ra có màu, mùi khác hẳn những lần trước, hoặc người uống thấy chóng mặt, nặng mi mắt sau ngụm đầu.
- Chè vằng được bán kèm lời quảng cáo "chữa" bệnh này bệnh kia nhưng không có thông tin người hái, nơi hái.
Với người dùng chè vằng thường xuyên, cách an toàn nhất là tự trồng vài khóm ở bờ rào nhà mình từ cành giâm lấy ở nơi tin cậy, hoặc mua lá tươi nguyên cành để tự soi trước khi phơi. Chuyện mua dược liệu khô cho đúng hàng là góc của người mua, bài này chỉ dừng ở chỗ: không đọc được lá thì không dùng.
Dấu hiệu ngộ độc lá ngón: gọi 115 hoặc đến cơ sở y tế ngay
Độc chất trong cây ngón là nhóm alkaloid, trong đó gelsemine và koumine được nhắc nhiều nhất; toàn cây đều độc, lá non và rễ được coi là độc hơn cả. Triệu chứng thường xuất hiện nhanh, có khi chỉ trong vòng một giờ sau khi ăn hoặc uống. Người bị ngộ độc có thể thấy chóng mặt, buồn nôn, đau bụng, nhìn mờ hoặc nhìn một thành hai, mí mắt sụp xuống, đồng tử giãn, nói khó, nuốt khó, tay chân yếu dần, rồi khó thở. Ca nặng tử vong vì liệt cơ hô hấp.
Nếu ai đó vừa uống nước lá hoặc ăn rau rừng rồi có những dấu hiệu trên, gọi 115 hoặc đưa ngay tới cơ sở y tế gần nhất, đừng chờ xem có đỡ không. Mang theo phần lá còn lại, bã lá hoặc ấm nước để nhân viên y tế nhận dạng. Không tự gây nôn bằng cách móc họng nếu người bệnh đã lơ mơ, khó nuốt, vì dễ sặc vào phổi. Không cho uống thêm bất cứ loại "thuốc giải" dân gian nào.
Theo hiểu biết y khoa hiện nay, ngộ độc lá ngón chưa có thuốc giải đặc hiệu được dùng rộng rãi; điều cứu sống người bệnh chủ yếu là hỗ trợ hô hấp kịp thời ở bệnh viện. Vì thế, thời gian từ lúc có triệu chứng tới lúc người bệnh được đặt trong tay đội cấp cứu là yếu tố quyết định. Ở vùng xa, nên gọi trước để trạm y tế hoặc bệnh viện chuẩn bị.
Chè vằng dùng trong dân gian: biết đến đâu, dừng ở đâu
Ở nhiều vùng miền Trung, nhất là quanh Quảng Trị, Huế và Nghệ An, chè vằng được nấu như một thứ nước uống hằng ngày, đặc biệt phổ biến với phụ nữ sau sinh theo thói quen truyền lại trong gia đình. Dân gian coi đây là "nước mát", uống thay trà. Đó là tri thức truyền thống, có giá trị văn hóa và là lý do cây được giữ ở bờ rào nhiều làng.
Ở góc độ bằng chứng hiện đại, đã có các công trình nghiên cứu thành phần và tác dụng của chè vằng trên mô hình thí nghiệm, nhưng những kết quả ấy chưa đủ để nói chè vằng chữa một bệnh cụ thể nào ở người. Bài này vì vậy không bàn công dụng, không nêu cách uống bao nhiêu. Người đang mang thai, đang cho con bú, đang dùng thuốc điều trị bệnh mạn tính hay có bệnh gan thận nên hỏi bác sĩ, dược sĩ trước khi dùng đều đặn bất kỳ loại lá nào.
Điều chắc chắn là: lợi ích của một ấm chè vằng, nếu có, không bao giờ bù được rủi ro của một lá ngón lẫn vào. Mọi lời khuyên trong bài đều nhằm vào một việc duy nhất là bảo đảm thứ bạn nấu đúng là chè vằng.
Dạy người trong nhà nhận mặt cây ngón, nhất là trẻ nhỏ và người mới về quê
Phần lớn hiểu biết về cây ngón nằm trong đầu người lớn tuổi đã quen đồi rẫy. Con cháu đi học, đi làm xa, người mới về làm dâu, làm rể, khách lên rẫy chơi thì không có nền đó. Một buổi chỉ cho họ nhìn tận mắt một bụi ngón ở chỗ quen, nhìn hoa vàng, lật lá xem gân, có giá trị hơn nhiều lời dặn chung chung.
Với trẻ nhỏ, đừng dạy bằng chuyện đáng sợ mà dạy bằng một luật dễ nhớ: không hái lá, hoa, quả ở bờ rào, bờ rẫy để ăn hay bỏ vào miệng, kể cả khi thấy người lớn hái. Muốn ăn quả dại thì đưa người lớn xem trước. Trẻ lớn hơn có thể học ba điểm của cây ngón: lá bóng, gân xương cá, hoa vàng hình phễu thành chùm.
Nhà nào có thói quen nấu chè vằng thì nên để một người chịu trách nhiệm hái và soi lá, không giao việc này cho người chưa quen. Khi nhờ người khác hái hộ, hỏi rõ hái ở đâu. Nếu vườn hay bờ rào gần nhà có cây ngón mọc, nhổ bỏ cả gốc, đeo găng khi làm, rửa tay kỹ sau đó và không đốt lẫn với củi đun bếp.
Câu hỏi thường gặp
Lá ngón và chè vằng mọc chung một chỗ được không?
Được. Cả hai đều là dây leo, ưa đất đồi, ven rừng, nên ở một số vùng có thể gặp chúng quấn chung một bụi hoặc mọc sát nhau. Vì vậy biết bụi này là chè vằng chưa đủ, mỗi lá vẫn phải được soi gân, nhất là khi hái ở nơi lạ hoặc vùng núi có cây ngón.
Phơi khô rồi nấu kỹ có làm mất độc của lá ngón không?
Không nên tin như vậy. Độc chất của cây ngón là alkaloid, không có cơ sở nào cho thấy phơi khô hay nấu sôi lâu làm cây trở nên an toàn. Các vụ ngộ độc được nhắc tới có cả trường hợp uống nước lá đã nấu. Cách phòng duy nhất là không để lá ngón lẫn vào ngay từ lúc hái.
Chè vằng mua ngoài chợ đã thái nhỏ có kiểm tra lại được không?
Rất khó. Khi lá đã thái và phơi, gân bị vụn, màu sẫm lại, người thường không thể soi từng mảnh. Nếu không biết rõ người hái và nơi hái, an toàn hơn là mua lá tươi nguyên cành để tự xem, hoặc tự trồng một khóm chè vằng từ cành giâm nguồn tin cậy.
Nhai thử một lá để xem có phải lá ngón không được không?
Tuyệt đối không. Lá ngón không có vị đắng gắt hay mùi lạ để cảnh báo, và chỉ một lượng nhỏ đã có thể gây triệu chứng. Nếm thử không giúp phân biệt mà còn tự đưa độc chất vào người. Hãy phân biệt bằng gân lá, hoa, quả và nguồn gốc mớ lá.
Nghi người nhà uống nhầm nước lá ngón thì làm gì trước tiên?
Gọi 115 hoặc đưa ngay tới cơ sở y tế gần nhất, đừng chờ triệu chứng nặng lên. Mang theo phần lá, bã lá hoặc ấm nước còn lại. Không móc họng gây nôn khi người bệnh đã lơ mơ, khó nuốt; để người bệnh nằm nghiêng nếu nôn, theo dõi nhịp thở trên đường đi.
Trẻ con chơi với hoa ngón vàng thì có nguy hiểm không?
Toàn cây ngón đều độc, kể cả hoa. Trẻ nhỏ hay ngắt hoa, cho vào miệng, nên ở vùng có cây ngón, người lớn nên chỉ cho trẻ nhận mặt cây và dặn không hái. Nếu trẻ lỡ ngậm, nhai hoa hay lá rồi có dấu hiệu lạ, đưa trẻ đi cấp cứu ngay và mang theo mẫu cây.